Hồi ức về “Napalm Girl” 40 năm sau chiến tranh Việt Nam

Bài này được dịch cách đây 2 năm, dịp 40 năm sau ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Một câu chuyện đầy đủ cả trước và sau về tấm ảnh huyền thoại “Napalm girl”. Tôi đã đọc và xin phép Mark, tác giả bài viết để dịch và đăng lại cũng như xin một cuộc hẹn với chính Nick Ut về sau tại một sự kiện của AP…

“Chúng tôi chụp ảnh mỗi ngày.” Ông bạn tốt và cũng là đồng nghiệp – nhiếp ảnh gia Nick Ut nhớ lại khi lái xe trên Quốc Lộ 1 tới Trảng Bàng, ngôi làng nơi năm xưa ông đã từng khi lại khoảnh khắc khủng khiếp của chiến tranh Việt Nam với bức ảnh đoạt giải Pulitzer sau đó – với hình ảnh một bé gái đang chạy khỏi ngôi làng sau khi bị đốt chảy bởi bom napalm của không quân miền Nam Việt Nam thả xuống.

Giờ đây, 40 năm sau ngày giải phóng và thống nhất đất nước, Nick và tôi lại cùng nhau du lịch lần thứ ba, xuyên Việt và nước láng giềng Campuchia. Tám ngày chúng tôi xuôi theo dòng sông Mekong đang mùa nước trong trên một du thuyền lộng lẫy có tên River Orchid, đem đến cơ hội để khám phá hệ thống sông ngòi quan trọng nhất khu vực Đông Nam Á và thảo luận về cuộc hành trình từ chiến tranh đến Hollywood của Nick, nơi mà ông tiếp tục là phóng viên ảnh cho Associated Press (AP).

Sinh ra tại Long An vào năm 1951 với tên khai sinh là Huynh Cong Ut. Nick mất người anh trai, Huynh Thanh My, một người vui vẻ, hòa nhã, dừng sự nghiệp điện ảnh của mình, lao vào chiến trường để làm phóng viên ảnh cho AP, tháng 10 năm 1965 súng đạn vô tình đã cướp đi sinh mạng anh. Với sự giúp đỡ của chị dâu, Nick cũng có được một công việc  tại phòng tối của AP năm sau đó, và sự nghiệp của anh bắt đầu.

Tình cảm của Nick đối với Việt Nam rất sâu sắc. Anh đã ghi lại những khoảnh khắc khủng khiếp của cuộc chiến hơn 40 năm trước và nhìn nó phát triển thành một đất nước năng động từ đống tro tàn. Nhưng anh sẽ không bao giờ quên được khoảnh khắc diễn ra vào ngày 8 tháng Sáu, 1972, mà anh sẽ kể lại khi xuôi dòng Mekong trên thuyền và trên chuyến đi của chúng tôi theo Quốc lộ 1.

Đó là một ngày buồn tại Trảng Bàng. Thời điểm đó, không có nhiều ngày vui, ít nhất là trong lúc chiến tranh. Quốc lộ 1 lúc đó, và cũng là nó bây giờ là con đường sống còn nối Sài Gòn và Campuchia. Con đường quan trọng này vẫn là điểm nóng đẫm máu trong cuộc chiến, nhưng trong cái ngày đặc biệt khủng khiếp đó, ngày 8 tháng Sáu năm 197, nó là khung cảnh của một trong những ngày bi thảm nhất của cuộc chiến từng được ghi lại bằng hình ảnh.  Đoạn phim sau đó được công bố về sự kiện là những phóng viên và người quay phim, nhưng Nick chính là người đã ghi lại khoảnh khắc mà Henri Cartier-Bresson, phóng viên ảnh nổi tiếng người Pháp gọi là “Khoảnh khắc quyết định.” Trong một khoảnh khắc, cuộc sống có thể kết thúc với một số người và cũng có thể thay đổi với một số khác, những người dân của một ngôi làng nhỏ tại Trảng Bàng. Cô gái chín tuổi với cái tên – Phan Thị Kim Phúc trở thành chứng nhân của tất cả những điều sai trái của chiến tranh.

vietnam-nick-ut-40th-anniversary-napalm-02

Hồ Văn Bốn và Hồ Thị Tình năm 2014, em họ của Kim Phúc, người xuất hiện bên phải trong bức ảnh “Napalm Girl” nổi tiếng. Ảnh: Mark Edward Harris

Mark Edward Harris: Hãy quay lại buổi sáng ngày 8 tháng Sáu năm 1972

Nick Ut: Tôi rời Sài Gòn vào khoảng 7 giờ sáng bằng xe hơi và tới vùng ven Trảng Bàng vào khoảng 7 giờ 30. Trong suốt chiến tranh, tôi thường đi đi lại lại trên Quốc lộ 1. Lúc đó thì chưa có đèn giao thông đâu. Chuyến đi khá nguy hiểm. Quân Bắc Việt ẩn nấp mọi nơi. Sau khi quân đội Mỹ và Nam Việt bắn một vài người lính, vứt xác bên đường để cảnh báo không được hỗ trợ hoặc gia nhập Việt Cộng.  Một vài người khi đó còn khá trẻ – 15 tuổi

Hôm đó là ngày thứ hai của một trận chiến ác liệt quanh Trảng Bàng. Khi tới đây, tôi thấy hàng ngàn người dân đang chạy dọc đường. Tôi là phóng viên ảnh AP khi đó và cũng có khá nhiều người của các hãng thông tấn và tin tức khác như ABC News, CBS, BBC,… Khoảng hơn 10 người đang có mặt tại đấy lúc đó.

Vào buổi sáng, cuộc chiến đang diễn ra quyết liệt trong làng, bom đã rơi, một vài phóng viên rời đi trước khi thả bom napalm vì nghĩ rằng họ đã có đủ tư liệu. Bom napalm được thả vào khoảng 12h30.

Anh đã mang theo đồ nghề gì hôm đó thế?

Tôi có 4 máy: 2 Nikon và 2 Leica, các loại len 24mm, 35mm, 50mm, 105mm, 200mm và 300mm. Bốn mươi năm trước, bạn cần mang theo thật nhiều lens. Không như bây giờ khi chúng ta có những loại mới, với khả năng điều chỉnh nhanh và sắc nét hơn nhiều. Tôi có khoảng 40 cuộn film Tri-X và vài cuộn phim màu âm bản, và một vài loại khác nữa.

Lần đầu khi thấy bom napalm nổ, tôi không nghĩ là có bất kỳ người dân nào trong làng. Bốn quả bom napalm đã thả xuống. Trong 2 ngày trước, hàng ngàn người dân đã phải chạy khỏi làng. Sau đó tôi thấy người chạy ra từ đám khói lửa. Tôi lấy máy Nikon với lens 300mm và bắt đầu chụp. Và khi họ đến gần, tôi chuyển sang Leica. Đầu tiên là một bà già đang bế một em bé thiệt mạng ngay trước ống kính của tôi. Sau đó tôi thấy từ cửa ngắm của máy Leica một em bé không một mảnh vải đang chạy. Tôi nghĩ “Lạy chúa, cái gì đang xảy ra vậy? con bé không có quần áo” Sau đó tôi tiếp tục chụp với chiếc Leica M2 của mình và lens 35mm.f2. Cái máy đó bây giờ đang nằm trong viện bảo tàng báo chí tại Washington.

Tôi dùng gần hết một cuộn Tri-x để chụp cho đến khi tôi thấy da của cô ấy bắt đầu bong ra, tôi dừng lại. Tôi không muốn cô bé chết. Tôi muốn giúp cô bé. Tôi đặt máy xuống đường. Chúng tôi dội nước lên người cô ấy. Tên cô bé là Kim Phúc. Cô bé vẫn gào lên “nóng quá”. Tất cả chúng tôi đều cảm thấy kinh hoàng.

Chú của cô bé hỏi nhờ chúng tôi đưa tất cả lũ trẻ đến bệnh viện. Tôi biết là cô bé có thể chết nếu tôi không giúp. Tôi trả lời lập tức “Được”. Kim tiếp tục gào lên, toàn thân cô bị đốt cháy nặng nề. Cô bé khóc hết nước mắt. Tôi còn lo rằng cô bé có thể chết đột ngột trên xe. Chúng tôi tới bệnh viện ở Củ Chi, không ai muốn giúp vì còn cả tá lính và dân chúng bị thương ở đây. Bệnh viện địa phương quá nhỏ. Họ hỏi tôi, “Anh có thể đưa đám trẻ này tới bệnh viện ở Sài Gòn không?” Tôi trả lời “Không, con bé có thể chết bất kỳ lúc nào ngay tại đây”. Tôi cho họ xem thẻ phóng viên AP và bảo “Nếu bất kỳ đứa nào chết thì các người sẽ gặp rắc rối đấy”. Sau đó họ đưa Kim Phúc vào trong trước vì cô ấy bị thương rất nặng. Sau đó tôi trở ra để rửa ảnh tại văn phòng AP ở Sài Gòn.

vietnam-nick-ut-40th-anniversary-napalm-01

Kim Phúc và Nick Ut tại Orange Country. Ảnh: Mark Edward Harris

Anh đã tự xử lý film hay là có kỹ thuật viên ở đó?

Tôi và người giỏi nhất trong phòng tối ở Đông Nam Á khi đó, Ishizaki Jackson, cũng là biên tập viên, đi vào phòng tối và nhúng cuộn phim vào ống. Tôi có 8 cuộn, anh ấy bảo tôi khi tôi tới văn phòng, “Nicky, anh có gì nào?”. Tôi nói, “Tôi có nhưng thứ rất quan trọng”. Tất cả phim được xử lý trong khoảng 10 phút. Jackson nhìn mấy tẩm ảnh và hỏi, “Nicky, tại sao con bé lại không mặc quần áo?” Tôi nói rằng vì nó bị đốt bởi bom napalm. Anh ấy nghe và chụp âm bản, sau đó in ra 5 hay 7 tấm gì đó. Người biên tập lúc đó là Carl Robinson nói “Oh, không, tiếc quá. Tôi không nghĩ là chúng ta có thể dùng tấm ảnh này ở Mỹ”

Sau đó Horst Faas, biên tập viên ảnh của AP tại Sài Gòn, và Peter Arnett, phóng viên AP, quay lại sau bữa trưa. Horst nhìn tấm ảnh của tôi và hỏi, “Ảnh của ai đây?” Một biên tập nói, “Của Nicky” Ông ấy bảo tôi kể lại câu chuyện. Sau đó gào lên, “Tại sao nó còn năm đây? Gửi nó đi ngay!” Sau đó ông ấy nhìn tất cả film của tôi trên bàn sáng và lấy những cái ông ấy muốn. Bức ảnh sau đó rời Sài Gòn vào lúc 3 hay 4 giờ chiều gì đó. Nó tới Tokyo và từ đó được chuyển tới New York bằng cách gửi điện báo ảnh.

Các biên tập viên ở New York phản ứng thế nào với tấm ảnh của Kim Phúc, khi mà nó vẫn có hình ảnh khỏa thân? Chúng tôi nhận được một cuộc gọi từ New York thông báo rằng tấm ảnh của tôi thật đáng ngạc nhiên và đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Đây là một tin vô cùng giá trị, trường hợp này là đặc biệt và tấm ảnh được chấp nhận. Buổi sáng hôm sau vào lúc 7h30, tôi, Horst Faas và Peter Arnett đi Trảng Bàng. Vào lúc đó, quân đội Ngụy quyền vẫn chưa biết tôi là ai và ai đã chụp tấm ảnh đó, họ đang gặp rắc rối lớn. Quân đội Mỹ thắc mắc: “Tại sao các ông lại để phóng viên chụp được tấm ảnh đó?”

Tại sao họ lại ném bom ngôi làng?

Bên ngoài nhà của Kim Phúc có rất nhiều quân giải phóng và du kích. Khi cuộc ném bom kết thúc, họ tìm thấy xác người khắp nơi. Đó không phải là tai nạn. Đó là một vụ không kích có chủ đích. Trước khi ném bom, quân lính đã đánh dấu các mục tiêu gần tòa thánh Cao Đài bằng lựu đạn khói vàng

vietnam-nick-ut-40th-anniversary-napalm-03

Nick Ut và Phan Thanh Tâm, cậu bé bên trái trong tấm ảnh, tại một nhà hàng của anh Tâm năm 2014. Ảnh: Mark Edward Harris

Dân thường có được cảnh báo để rời khỏi ngôi làng không ?

Không một ai được chính thức thông báo, nhưng cuộc chiến bắt đầu trước đó 2 ngày, do đó mọi người nghĩ rằng dân chúng đã chạy hết rồi. Rất nhiều bom đã được thả xuống, nhưng đó là lần đầu tiên họ thả bom napalm

Tôi cũng từng bị thương trong cuộc chiến do đó tôi hiểu cảm giác của nạn nhân như thế nào. Tôi bị thương 3 lần. Lần đầu tiên, tôi bị mảnh rocket văng trúng tại Campuchia. Rồi tôi tới Trảng Bàng để tiếp tục câu chuyện của Kim Phúc 3 tháng sau đó và bị  thương bởi súng cối.  Lần thứ 3 lại là Campuchia. Rất nhiều phóng viên ảnh chiến tranh phải mang theo kỷ niệm của nó vĩnh viễn. Tôi vẫn còn 1 vết ngay chân.

[Ghi chú của Ed: Nick có 2 lần đối diện với cái chết. Anh ấy ở trong một cái xe chạy qua bãi mìn nhưng không có quả nào nổ cả, một lần nữa vào năm 1971 khi anh ấy được thay thế bởi một đồng nghiệp lên một chiếc trực thăng của Hải quân, và sau đó nó bị bắn hạ. Không ai sống sót trong vụ đấy.]

Kim Phúc cần một khoảng thời gian rất dài để hồi phục sau sự kiện ngày 8 tháng Sáu.

Kim phải ở trong bệnh viện gần một năm. Vài ngày sau tôi đưa cô ấy đến bệnh viện ở Củ Chi, họ chuyển cô đến bệnh viện Barsky ở Sài Gòn. Sau đó tôi đến thăm khi cô ấy quay về nhà. Ngôi nhà của gia đình cô đã bị phá hủy.

Tôi quay lại Trảng Bàng khá nhiều lần. Tâm, em trai Kim đứng ở bên trái của tấm ảnh. Cậu ấy chết khoảng 10 năm trước. Cậu ấy có 1 tiệm mỳ ở đó, bây giờ đang được người vợ quản lý. Tấm ảnh của tôi được treo ở đó. Anh chị em họ của Kim cũng ở trong tấm ảnh. Hồ Văn Bốn và Hồ Thị Tình, vẫn đang ở Trảng Bàng, họ có một cửa hiệu nhỏ và nhà hàng.

Tôi gặp lại Kim lần đầu sau chiến tranh vào năm 1989, tại Cuba, nơi cô ấy theo học ngành y. Bạn trai cô ấy –  Bùi Huy Toàn cũng ở đó. Anh ta là người Hải Phòng. Kim nói với tôi, “Chú Nick, cháu nghĩ là cháu sẽ cưới anh ấy nhưng cháu không nghĩ là bố cháu sẽ thích vì anh ấy là người Bắc.” Nhưng ông ấy lại rất quý cậu ta vì đã lo lắng cho Kim rất tốt. Khi Kim và Toàn cưới nhau ở Cuba, họ không có tiền, nhưng nhân dân Cuba và các Đại sứ quán đã cho họ tiền để đi tuần trăng mật. Họ đến Moscow năm 1992, và trên đường về, khi dừng đổ xăng ở Newfoundland, họ đã hỏi để ở lại tại Canada và được đồng ý. Sau đó họ tới Toronto và có 2 con trai. Cô ấy rất bận rộn và đi vòng quanh thế giới như là Đại sứ của Liên Hợp Quốc. Cô ấy vẫn phải chịu nhiều đau đớn. Sau khi tấm ảnh được công bố trên trang nhất nhiều tờ báo, các bác sỹ khắp nơi tình nguyện giúp cô ấy. Rất may là cô ấy đã được chụp ảnh. Nếu không có thể cô ấy đã chết.

Mark Edward Harris – Nguyễn An dịch

Link: http://www.vanityfair.com/news/2015/04/vietnam-war-napalm-girl-photo-today

Bài viết được đăng  dưới sự cho phép của tác giả

Những ngày cuối cùng của Sài Gòn

Bài này tôi dịch từ cách đây 2 năm cho một tờ báo Việt Nam. Một trong những bài hay nhất về chiến tranh Việt Nam đến từ một nhà báo Đức. Với những câu từ sinh động, chân thật, những hình ảnh cuối cùng của một Sài Gòn tuyệt vọng, bàng hoàng và tan nát hiện ra trước mắt…

Sài Gòn:những ngày cuối và hy vọng

40 năm trước, người Mỹ bỏ rơi Sài Gòn. Những nỗ lực cuối cùng nhằm vãn hồi tình hình hỗn loạn và thương lượng thất bại.  Trong cơn mưa bom đạn dội xuống Sài Gòn, Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa đã phải chấm dứt sự tồn tại của nó. Và cũng không có hy vọng gì kiến tạo lại một nhà nước khác cho Sài Gòn với những gì đang còn lại của xã hội lúc đó.

Những người Sài Gòn, thậm chí còn sợ chiến tranh hơn là những người miền Bắc. Nhưng rồi thì nó cũng đến gần, ngày 21 tháng Tư, Xuân Lộc thất bại, đây là pháo đài cuối cùng trên đường tiến quân vào đô thành Sài Gòn của các sư đoàn quân Bắc Việt từ phía Đông.

Những tiếng “ầm-ầm-ầm” đặc trưng của pháo binh, thứ âm thanh mà Michael Herr sau này sẽ nhắc tới một cách “ồn ào nên thơ” trong quyển Dispatches, có thể nghe được suốt ngày đêm. Nhưng tiếng “dit-dit-dit” của súng cá nhân, ngoại trừ vài ngày trong lần tấn công vào dịp Tết (Mậu Thân) 1968, đã buông tha người Sài Gòn. Cho tới bây giờ, họ đã không chỉ sống sót qua những cuộc chiến tranh, mà còn hưởng lợi và tận hưởng những gia vị của một “xã hội Honda”, điều hiện có nguy cơ bị cuộc chiến phá hủy.

* “Xã hội Honda” là một cụm từ chỉ cuộc sống của người Sài Gòn trước 1975, với nhiều đồ dùng hiện đại, tiêu biểu là xe máy Honda, thứ vẫn còn rất phổ biến ở Việt Nam sau này

Về mặt quân sự, cuộc chiến đã an bài. Sau khi chiến dịch tấn công mùa xuân bắt đầu trên vùng núi, chính quyền Sài Gòn mất Ban Mê Thuột và Kontum. Tổng thống Thiệu và Bộ tham mưu của ông ta đã hạ lệnh rút lui, việc này dẫn tới một cuộc tháo chạy hỗn loạn.

Chỉ còn một vài phần nhỏ của một đội quân được trang bị hiện đại bao gồm hơn nửa triệu người là còn muốn tiếp tục chiến đấu. Sự tháo lui một cách hỗn loạn ra khỏi Tây Nguyên càng thể hiện rõ hơn cuộc khủng hoảng trong nội bộ của quân đội Sài Gòn. Tinh thần chiến đấu của quân lính đã suy sụp từ những tháng trước đó. Từ khi Mỹ cắt giảm viện trợ tài chính, ai cũng đã hiểu rằng họ sẽ không được cung cấp vũ khí và hàng tỉ dollar một cách vô giới hạn nữa, và Mỹ cũng không sẵn sàng hỗ trợ thêm một lần nữa với không quân và quân đội trong trường hợp khẩn cấp. Có lạc quan lắm thì cuối cùng từ sau mùa thu 1974, con người kể cả quân nhân và người dân thường, trước hết ai cũng chỉ muốn cứu lấy chính mình. Người ta nhìn thấy điều không thể tránh khỏi đang tiến đến gần. Khác với người Khmer ở Phnom Penh cách đó chưa tới 300 kilômét, những người còn chiến đấu trên đường phố cho tới kết thúc cay đắng cuối cùng, kể cả sau khi đại sứ quán Mỹ đã di tản, đa số người dân nhìn thấy sự an toàn trong việc bỏ chạy. Liệu ai còn muốn liều mạng sống của mình cho một việc đã thất bại rồi? Sự hỗn loạn đi cùng với sụp đổ của miền Nam Việt Nam có nguyên nhân sâu xa của nó trong nhận thức và lý trí của tập thể.

*Khơ me đỏ lợi dụng việc Mỹ rút quân để đánh chiếm Phnom Penh vào ngày 17 tháng Tư 1975

Vào ngày Xuân Lộc thất thủ, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa, người bảo đảm và đại diện của trật tự cho tới giờ phút đó, tuyên bố từ chức. Vào buổi tối, ông ta bộc lộ những cảm xúc đầy cay đắng về Mỹ trên truyền hình. Thiệu kết tội Henry Kissinger đã không nhận ra rằng, thỏa hiệp được ký kết vào tháng Một năm 1973 bởi ông ta đã dẫn tới kết cục diệt vong cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa. “Không ai không nhận ra, ngoại trừ Kissinger”, “ Hắn đã bán chúng tôi”, Thiệu nói với những người Mỹ. Tiếp đó, Thiệu cho rằng Richard Nixon, Tổng thống Mỹ lúc đó đã thất hứa về việc tấn công miền Bắc và hỗ trợ kinh tế. Ông ta nói với đôi mắt rưng rưng: “Tôi không thể tin được, Kissinger đã trao cho chúng ta một số phận khủng khiếp”

*Hiệp định Paris được ký vào tháng Một năm 1973, dẫn đầu 2 bên là ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger – Ngoại trưởng Mỹ khi đó, 2 ông cũng được trao giải Nobel Hòa Bình vào cùng năm. Nhưng ông Lê Đức Thọ đã từ chối nhận giải.

Sài Gòn cảm động lắng nghe người Tổng thống đã từ chức đó. Những xúc cảm mà ông biểu lộ trong lần xuất hiện cuối cùng này là những điều mà nhiều người không hề nghĩ rằng ông có, đã tạo ra chút ít những sự cảm thông. Nhưng đặc biệt là quyết định đi lưu vong của ông đã tạo hy vọng cho một lần ngưng bắn mới. Hà Nội trước đó yêu cầu sự từ chức của “bè lũ Thiệu” như là một điều kiện tiên quyết để thỏa hiệp. Đó có thể là một giải pháp chính trị cho cuộc khủng hoảng. Trần Văn Hương, một người đàn ông 71 tuổi và đang đương nhiệm Phó Tổng Thống sẽ là người kế nhiệm.

Dường như Sài Gòn lại có hy vọng mới. Những người làm việc cho người Mỹ hay cho Đại sứ quán một nước Phương Tây nào đó bao vây từ sáng cho tới tối những phòng lãnh sự để lấy thị thực cho họ và gia đình. Chạy trốn là giải pháp của thiểu số, kể cả khi những cảnh từ biệt trước cổng vào phi trường có xác định hình ảnh chung toàn cục.

Giải pháp nào cho Sài Gòn?

Người Mỹ vẫn còn chưa cho thấy dấu hiệu nào là họ đã sẵn sàng cho một cuộc di tản đông người. Số đông người dân trong phần còn lại của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, bây giờ chỉ còn bao gồm những vùng đất hẹp quanh Sài Gòn và các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, đang hy vọng vào một điều kỳ diệu: một tín hiệu thần kỳ nào đó có thể làm im lặng những họng pháo của quân đội Cộng Sản, vốn đã sẵn sàng vị trí để tấn công thành phố dễ dàng, những chiếc xe tăng dừng lại, để trao tiếng nói cuối cùng cho các chính trị gia và nhà ngoại giao.

Việc Phnom Penh đã bị Khmer Đỏ chiếm trước đây vài ngày, và việc chiến tranh đã tới gần cho tới mức có thể cảm nhận được, đã không thể bóp nghẹt niềm hy vọng đang nảy nở. Nỗi lo sợ trước trận đánh cuối cùng đã làm nảy sinh những ảo tưởng. Kết cuộc của Sài Gòn là một chiến thắng của ảo tưởng.

Đội ngũ các nhà báo, những người bây giờ có thể dễ dàng ra ngoài để tường thuật tình hình chiến trường vào ban ngày, khi chiến tranh đã tiến gần tới mức có thể nghe được, được Đại sứ quán Mỹ mời tới dự một cuộc họp trên quán bar ở sân thượng của khách sạn Caravelle. Thay cho các thông tin về chính trị và diễn tiến cuộc chiến là những chỉ thị “bí mật” cho trường hợp khẩn cấp và việc di tản bằng trực thăng. Có một chỗ tập trung được ước định trước cho các nhà báo, ở gần văn phòng UPI, gần cảng sông, có thể nhanh chóng tới đó được từ các khách sạn lớn như Caravelle, Continental và Majestic. Tín hiệu được tin tưởng nhắn tới các nhà báo rằng sẽ được phát qua radio vào ngày X. Trong trường hợp khẩn cấp, đài phát thanh của quân đội Mỹ sẽ phát tin tức “every hour on the hour”, thêm vào câu mật hiệu: “The temperature is 105 degrees and rising” (Nhiệt độ là 105 và đang tăng lên), tiếp theo sau đó là bài “I am dreaming of a White Christmas” của Bing Crosby. Đây sẽ là tín hiệu cho cuộc di tản. Người ta sẽ đưa các quý bà và quý ông là nhà báo tại địa điểm tập trung với nhiều nhất là một kiện hành lý.

Lúc đó giới nhà báo tranh luận về các lựa chọn, ở lại Sài Gòn chờ quân đội Bắc Việt tiến vào, hay rời khỏi Sài Gòn bằng máy bay, chấm dứt nhiệm vụ ở Việt Nam bằng một cuộc di tản, còn các nhà ngoại giao của Đại sứ quán Mỹ vẫn hy vọng có thể tránh được cuộc di tản, một kết thúc nhục nhã giống như bỏ chạy. Thông tin đến với Graham Martin, người đứng đầu đặc nhiệm Mỹ tại đây, từ hai nguồn, gợi lên ý nghĩ rằng phía miền Bắc có thể đàm phán: một từ nhóm Hungary của ICCS, Ủy ban Kiểm soát Quốc tế, và một từ Đại sứ quán Pháp.

Giám đốc CIA ở Sài Gòn đã tự mình bắt liên lạc với các sĩ quan Hungary. Thomas Polgar xuất thân từ một gia đình Hungary đã di cư sang Mỹ. Từ người đồng hương sang người đồng hương, người ta tin cậy thông báo rằng Hà Nội hứng thú với một ‘giải pháp Lào’, để tránh một trận chiến ở đường phố Sài Gòn. ‘Giải pháp Lào’, đó là một chính phủ trung lập, với các nhân vật của ‘lực lượng thứ ba’, phe đối lập bị coi là yếu ớt trong một thời gian dài ở Sài Gòn, và tất nhiên là với sự hỗ trợ về ngoại giao của Liên bang Xô Viết, Pháp và Liên hiệp Anh.

Nguồn thứ hai, dường như xác nhận các thông tin của Giám đốc CIA, bắt nguồn từ đại sứ quán Pháp, nơi mà Jean-Marie Merillon với tinh thần của de Gaulle, đã tin rằng “Grande Nation” thêm một lần nữa sẽ nhận được vai trò lịch sử trong khoảnh khắc chiến bại của Mỹ tại Đông Dương. Merillon thông báo cho đại sứ quán Mỹ và một nhóm nhỏ các nhà báo với khả năng sử dụng tiếng Pháp một cách thanh lịch, rằng những người miền Bắc đã tiếp xúc với người Pháp và đưa ra ‘giải pháp Lào’: tước bỏ hết quyền hành của “bè lũ Thiệu”, thành lập một chính quyền trung lập, dưới quyền ‘Big Minh’ và ngưng chiến trước cửa ngõ Sài Gòn, để tạo cơ hội cho một hội nghị bốn bên bàn thảo một trật tự chính trị mới ở miền Nam Việt Nam.

*Grande Nation: từ ám chỉ nước Pháp

Khi vòng vây bao quanh Sài Gòn càng siết chặt lại thì các cố gắng đàm phán ngừng bắn của các chính trị gia và các nhà ngoại giao càng trở nên tuyệt vọng. Ba giờ chiều ngày 26 tháng Tư, Nguyễn Văn Thiệu rời Sài Gòn tới Đài Loan. Kể từ lúc từ chức, ông ta cần năm ngày để xếp đồ đạc vào va li. Người Sài Gòn đã có rất nhiều phỏng đoán về những thứ ở trong hành lý của ông ta.

Lời đề nghị ngừng bắn của Phó Tổng thống Trần Văn Hương bị Đài phát thanh của Mặt trận Giải Phóng từ chối. Ông Hương vẫn đại diện cho “chính quyền Thiệu mà không có Thiệu”, một chính phủ trung lập cần được thành lập và dẫn đầu bởi “một nhân vật thật sự yêu chuộng hòa bình”. Và hơn 5000 quân nhân Mỹ, phần lớn là sĩ quan trong bộ tham mưu của DAO – Defense Attache’s Office hay còn được gọi là “Lầu Năm Góc phương Đông”, sẽ phải rời đất nước này như là điều kiện tiên quyết.

Ngày 26 tháng Tư, một ngày thứ Bảy, khi Thiệu đã rời đất nước, Quốc Hội đã họp trong một ngôi nhà tối tăm, ẩm mốc ở khu cảng, nhất trí ủy quyền cho Phó Tổng thống Hương tự chọn một người kế nhiệm theo ý muốn của ông, không cần quan tâm tới các quy định của Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa. Trần Văn Lắm, Chủ tịch Thượng viện, theo hiến pháp đúng ra có thể là người kế đến. Nhưng vì là ‘người của Thiệu’ nên ông không có cơ hội được chấp nhận là “một người thật sự yêu chuộng hòa bình”.

Dương Văn Minh, còn được gọi là ‘Big Minh’ do có một thân hình to lớn, sẽ là Tổng thống. Ông ta cũng là người đã đóng một vai trò chủ chốt trong cuộc lật đổ Ngô Đình Diệm vào năm 1963 và qua nhiều năm trời đã đứng vào phía đối lập với Tổng thống Thiệu. Không ai biết rõ là phe đối lập này thật ra là bao gồm những ai. Nhưng hầu như tất cả mọi người đều tin rằng ‘Big Minh’ có thể giải cứu Sài Gòn trong thời điểm nguy cấp.

Đại sứ Pháp và Mỹ được cho là đã giật dây để cho ‘Big Minh’ bước ra hoạt động. Vào tối Chủ nhật, Graham Martin đã nói chuyện với người Tổng thống được bổ nhiệm, và có ý trì hoãn về việc quân đội Mỹ sẽ rút quân ngay lập tức. Khoảng cùng thời gian đó, Jean-Marie Merillon vào gặp đại diện phía những người Cộng sản, một lần nữa sau hiệp định ngừng bắn 1973, trong khu vực an ninh của sân bayTân Sơn Nhất. Trưởng phái đoàn, đại tá Võ Đông Giang, là một con người khó tính, ít để lộ cảm xúc, qua cuộc gặp này Merillon muốn thăm dò cơ hội của một “chính phủ hòa bình Big Minh”.

Merillon được thông báo vội vã rằng; người Mỹ phải rút lui ngay lập tức, “bè lũ Thiệu” cần phải được loại bỏ hoàn toàn và được thay bằng những người đồng hương yêu hòa bình khác. Tuy vậy, câu hỏi mang tính quyết địn chưa được trả lời: liệu một chính phủ do ‘Big Minh’ đứng đầu có được chấp nhận như là đối tác để đàm phán một giải pháp chính trị hay không?

Mặc dù không có được sự chắc chắn cuối cùng này, Martin, Merillon và những người đi theo “Big Minh” vẫn bắt đầu làm việc để cứu thoát Sài Gòn ra khỏi một cuộc chiến. Sự lạc quan này cũng được chia sẻ bởi nhiều chính trị gia khác. Thời điểm trao quyền lực từ Hương sang ‘Big Minh’ được sắp xếp vào chiều ngày thứ Hai, 28 tháng Tư. Hàng ngày, “Airlifter”, loại máy bay vận tải của Không quân Mỹ, đến Sài Gòn để đưa “những người bị nguy hiểm” ra đi. Có khoảng 5,000 người rời đất nước mỗi ngày, đám đông bao quanh Đại sứ quán Mỹ hầu như không còn thể kiểm soát được nữa. Những người muốn chạy trốn cảm thấy hối hả và tuyệt vọng. Xe tăng đã đứng trước cửa ngõ Sài Gòn, và  các cơ quan lãnh sự Mỹ vẫn yêu cầu giữ đúng quy trình nhập cảnh phức tạp. Cho dù vào lúc này, phần lớn các quốc gia Phương Tây đã di tản các Đại sứ quán của họ và bán nốt số rượu dự trữ với giá như cho, thì người Mỹ, dẫn đầu bởi Graham Martin và Thomas Polgar, vẫn có thể chờ đợi và tin vào việc có thể trì hoãn được chiến dịch di tản đường không quy mô lớn đã được lập kế hoạch, bởi vì một giải pháp chính trị bắt đầu hiện hình, cứu Sài Gòn thoát khỏi sự hoảng loạn và khốn cùng của một cuộc chạy trốn quy mô lớn.

Vào sáng Chủ nhật, khoảng hai tiếng trước khi mặt trời mọc, quân giải phóng miền Nam bắn vài quả hỏa tiễn vào nội thành, trúng khu vực gần đại sứ quán Đức ở vùng ranh giới giữa Sài Gòn và Chợ Lớn, khu phố người Hoa, và gây ra một vụ cháy lớn kinh hoàng. Đã 3 năm rồi, Sài Gòn đã không phải hứng chịu bất kỳ một cuộc tấn công trực tiếp nào như thế. Đợt tấn công này, kèm theo là một tiếng nổ lớn, đã khiến cho người dân nhận thức được rằng màn cuối cùng của cuộc bao vây đã tới.

Chỉ có những nhà ngoại giao quyền lực và có ảnh hưởng từ Đại sứ quán Pháp và Mỹ chưa thấy những dấu hiệu rõ ràng. Những dấu hiệu có thể dễ dàng hiểu được là Hà Nội chỉ đang thúc giục việc tăng tốc cho một quá trình chuyển giao chính trị (từ chính quyền Thiệu sang cho một người mới- chú thích của người dịch). Graham và Merillon chắc chắn rằng Hà Nội sẽ đối diện với thất bại khi tấn công dồn dập một thành phố Sài Gòn với 3 triệu dân ngay trước mặt cả thế giới. Do đó, cả hai cho rằng một thỏa hiệp với sự nhượng bộ chính trị có thể thuyết phục họ.

Những tranh cãi tương tự cũng từng xuất hiện trong suốt chiều dài cuộc chiến, bởi những nhà chính trị tự do. Hà Nội từ chối thỏa hiệp, và cũng không đưa ra đề nghị nào cả. Không có bằng chứng nào cho thấy những điều kiện tiên quyết hay thỏa thuận sẽ khiến họ từ bỏ ý định “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.  Hiệp định Paris 1973 với một kết quả là Hà Nội sẽ chấp nhận sự tồn tại của một chính quyền miền Nam riêng biệt vẫn còn. Một thỏa thuận hỗ trợ kinh tế lên đến 2 tỷ USD cho miền Bắc đã được hứa. Nhưng cho đến những giờ cuối, Hà Nội chỉ cho thấy một thoả thuận chính trị chỉ là ảo tưởng. Không có gì làm thay đổi “Chiến dịch Hồ Chí Minh” và việc “Giải phóng miền Nam” được cả.

Bây giờ, khi mà những chiếc xe tăng đã tới ngay của ngõ Sài Gòn. Mùa khô kết thúc và mùa mưa có thể sẽ gây rắc rối cho các chiến dịch quân sự. Đường lối chiến lược cho tới nay của Hà Nội là tiêu diệt phần còn lại của quốc gia Sài Gòn với một cú đánh quyết định, đạt chiến thắng quân sự, thay vì cho phép có ‘tương quan Lào’ và qua đó mang cả người Pháp và người Nga lên sân khấu như là những người mang lại hòa bình nữa.

Việc đó minh chứng cho sức mạnh của ảo tưởng rằng ngay cả khi Sài Gòn bị bao vây và bị cô lập khỏi phần còn lại của đất nước, trong tầm bắn của xe tăng của đối phương, một kế hoạch hòa bình trên phương diện chính trị vẫn có thể thành hình được, cái tất nhiên là đòi hỏi chế độ ở miền Nam phải hy sinh nhiều nhất, tức là phải tự phá hủy trật tự cho tới lúc đó, “bè lũ Thiệu” và “Chính quyền bù nhìn” phải bị dẹp bỏ. Vào chiều ngày thứ hai, 27 tháng Tư, Phó Tổng thống Hương sẽ từ chức và trao quyền lại cho Dương Văn Minh

Các chính trị gia tiến hành công việc với vận tốc sên bò, trong khi ai ở Sài Gòn cũng nhận thấy, các tướng lĩnh phía Bắc đang thúc giục cho một quyết định gấp rút. Cả ngày lẫn đêm đều nghe được tiếng đạn pháo. Bây giờ nới tiếng súng nổ lớn nhất là từ hướng phi trường, nơi những chiếc máy bay di tản của cái cầu hàng không nhỏ bé vẫn còn có thể hạ cánh mà không bị bắn phá. Người Sài Gòn đang dao động giữa hy vọng và tuyệt vọng. Cuối cùng thì liệu người Mỹ có chở hết tất cả những người Việt nào muốn đi hay không? Có lẽ cuộc chiến sẽ chấm dứt với một thỏa hiệp chính trị.

Một phóng viên nổi tiếng từ giã bạn bè vào buổi tối, vì ‘giải pháp Lào’ cho phép ông bay về quê hương để hoàn thành một phim tài liệu rồi sau đó quay trở lại Việt Nam. Nhưng một người bạn nói với ông ấy rằng hãy quên cái tên Sài Gòn đi, vì tới khi đó thì những người miền Bắc đã chiếm được thành phố, và đổi tên nó (Thành phố Hồ Chí Minh). Đây là “tuyền truyền của CIA”, ai đó gào lên. Cuộc thảo luận dường như tình cờ đã trở nên dữ dội cho tới mức buổi tiệc từ giã phải kết thúc sớm hơn dự định.

Những ai cho rằng Hà Nội sẽ quyết định chấm dứt cuộc chiến đẫm máu với hơn một triệu nạn nhân bằng một chiến thắng quân sự, và sau đó biến miền Nam thành một nước Xã Hội Chủ Nghĩa như miền Bắc, với kể cả những giới hạn cho giới báo chí nước ngoài, thì ngay trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn, người đó vẫn phải chịu đựng sự nghi ngờ là đã trở thành một nạn nhân của “tuyên truyền Mỹ”. Nhưng kết quả đã được thấy nhanh chóng ngay sau đó.

Ảo vọng, chuyển giao và sụp đổ

Ngày thứ hai, 28 tháng Tư, lúc 5 giờ chiều, công việc bàn giao chức vụ được tiến hành trong dinh Tổng thống, nằm trong một tam giác với Đại sứ quán Mỹ và nhà thờ công giáo. Nhưng đám mây đen kịt kéo đến thành phố báo hiệu một cơn mưa lớn. Trời đã tối. Đèn trong dinh được bật lên khi những người của “lực lượng thứ ba”, vài nhóm nhỏ những người trung lập, những người theo chủ nghĩa quốc gia và Phật tử, bước qua cánh cửa mở rộng vào trong gian sảnh tiếp đón và tạm thời ngồi xuống ở hàng ghế thứ hai.

Hàng ghế đầu dành cho Phó Tổng thống Hương và các Bộ trưởng thời điểm đó. Lúc đấy có khoảng 100 người, cho tới 5 giờ chiều, hầu như chỉ khoảng một nửa gian sảnh kín người. Tiếp theo sau đó là báo chí quốc tế. Trên các lối đi, cách bục diễn thuyết không xa, là các camera của một số đài truyền hình.

Khập khiễng với một chân chống gậy, Phó Tổng thống Hương bước vào gian sảnh, “Big Minh” đi kèm, có thể nhận ra vẻ hãnh diện của ông ta cho vai trò mới này. Minh nhìn những người bạn và những người theo ông ở hàng ghế thứ nhì, những người dưới thời tổng thống Thiệu đã bị gièm pha và bị các cơ quan nhà nước hành hạ nhiều năm trời; cuối cùng thì cũng đứng trước ngưỡng cửa của ảnh hưởng và sự công nhận của giới công khai: Nguyễn Văn Huyền, một luật sư mà sự hiểu biết về chuyên môn của ông có nhiệm vụ bổ sung cho sức thu hút của ‘Big Minh’; thượng nghị sĩ Vũ Văn Mẫu, một con người nhanh nhẹn, hiền lành, luôn mỉm cười lịch sự, một Phật tử sùng đạo và là người cầm cờ của các nhà sư quốc gia chủ nghĩa ở chùa Ấn Quang; và bên cạnh nhiều người khác nữa. Trong đó có Nguyễn Văn Tuyên, một đồng sự với cặp mắt kiếng trí thức, đã tố cáo những vấn đề tham nhũng, cẩu thả và tùy tiện của chính quyền trước đấy.

Cuối cùng, Trần Văn Hương cũng bước lên bục diễn thuyết, với huy hiệu tổng thống ở mặt trước, một cơn mưa lớn và sấm chớp bắt đầu trút xuống, lớn tới mức thậm chí được xem là bất thường trong vùng đất nhiệt đới Sài Gòn này. Cơn mưa đầu tiên sau nhiều tháng mùa khô kéo dài rơi xuống như một trận lũ. Mây đen phủ tối bầu trời giống như màn đêm đã buông xuống tại Sài Gòn. Bài diễn văn của Hương đi kèm nhiều tia sét, rồi tiếng sấm tiếp theo sau đó. Có lẽ Richard Wagner lừng danh cũng không thể dàn dựng một cảnh kinh điển hơn thế này.

*Richard Wagner (1813-1883): nhà soạn nhạc, đạo diễn kịch nổi tiếng người Đức, tác giả Der Ring des Nibelungen

Gần như cả bài diễn văn ngắn này của Trần Văn Hương  đã bị sấm sét của cơn mưa này át tiếng. Gió bão thổi màn che của những chiếc cửa sổ cao bay tung lên, đưa mối quan tâm của thính giả ra khỏi con người vốn đã nói chuyện rất nhạt nhẽo này. Hương khiến cho thính giả phải chán nản với tính bướng bỉnh của một người muốn giữ một hình thức mà vốn đã mất ý nghĩa từ lâu. Điều mà viên cựu Thị trưởng Sài Gòn đã đánh mất trong mối quan hệ với Thiệu, người thường lợi dụng và không trao cho cấp phó của mình quyền lực cũng như sự tin tưởng thật sự. Những gì còn lại chỉ còn là một ông già cứng đầu, cố gắng giữ nguyên tắc sức mạnh. Hình ảnh một ông già ốm yếu, khập khiễng đi lại cùng chiếc nạng thật sự là biểu tượng cho sự tự sụp đổ.

Bài diễn thuyết kéo dài chừng mười phút. Các nhà báo không hứng thú lắm và cũng bị phân tâm bởi trận mưa, tới mức không ai phiên dịch nó được. Tất cả đều chờ ‘Big Minh’, một chính phủ mới và một kế hoạch hòa bình mà có thể khiến Hà Nội sẽ chấp nhận

Ông Hương lại khập khiễng trở về chỗ của mình. Im lặng bao trùm căn phòng. “Big Minh” thu hút sự tập trung , bởi vì người ta đang chờ bước kế tiếp từ ông. Nhưng ông vẫn ngồi yên trên ghế của mình. Một khoảng lặng giữa nghi thức, mà người ta không nhận ra được rằng nó đang làm tăng sự căng thẳng.

Rồi cuối cùng người ta cũng nhìn thấy một người lính canh, đeo thắt lưng trắng và dây đeo, đứng ở phía trước bên trái, cạnh cánh cửa, bước vào giữa, tới bục diễn thuyết. Anh ta dùng hai tay cầm huy hiệu của tổng thống, giật nó ra khỏi móc treo, quay người với những động tác giật nhanh, trong buồn cười như những người lính đang đi duyệt binh, đi ra hướng cửa và mang biểu tượng của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ra khỏi gian phòng một cách chậm rãi.

Giới chính khách và nhà báo giữ một sự im lặng mà có thể xem như phút mặc niệm cho một hình ảnh, tượng trưng của một chế độ chính trị trở thành đống rác của lịch sử. Khán giả chăm chú theo dõi những cử động của người lính vệ binh, bây giờ đang quay lại và tiến tới lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa ở bức tường phía trước, nhấc nó lên khỏi giá cắm và lúc nào cũng đi thẳng, mang nó từ từ ra khỏi gian phòng.

Lá cờ màu vàng với ba sọc đỏ được người linh mục trẻ tuổi Trần Hữu Thanh phác thảo năm 1945, người về sau là thân cận với Tổng thống theo Công giáo Ngô Đình Diệm và tuyên truyền cho “triết lý chủ nghĩa cá nhân” của ông ta. Thời điểm này, Thanh đã tham gia vào phe đối lập với Thiệu. Ông ta giữ khoảng cách với bên mà đã gắn liền hình ảnh với lá cờ này.

Lá cờ này không có nhiều ý nghĩa với tôi. Nhưng từ chuyến đi tường thuật đầu tiên của tôi trong cuộc chiến này, tôi đã được trải nghiệm việc nó là biểu tượng của một quốc gia, và hàng trăm ngàn người đã hy sinh cho nó. Hơn 500.000 lính Mỹ đã được gởi tới đây để củng cố cho nền Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam và 50.000 người trong số đó đã tử trận. Lá cờ vàng đỏ này được trang trí cho các quan tài ở nghĩa trang quân đội lớn bên ngoài Sài Gòn, trên đường đi Biên Hòa, khi mỗi năm một lần người ta tiến hành tưởng niệm những người đã hy sinh trong một buổi lễ quốc gia long trọng.

Hàng triệu người đã chết. Đây là một hành động đầy phi lý với tôi, xóa bỏ hình ảnh của lá cờ và trốn tránh trách nhiệm lịch sử.

Người lính vệ binh quay lại với một con dấu Tổng thống mới trên tay. Anh ta đập mạnh và gắn chặt biểu tượng của Tổng thống Minh lên bục diễn thuyết. Đó là một hình hoa sen xanh đối lập trên nền trắng. Có lẽ là một người thiết kế nghiệp dư đã hấp tấp tạo ra con dấu này. Và chắc hẳn là cũng không tìm được một hình ảnh nào tốt hơn ở Sài Gòn lúc đó. Vì thực tế là đã không còn quốc gia với phần còn lại của xã hội này được nữa. Chỉ có những kẻ mơ mộng mới hy vọng vào lần thay đổi biểu tượng vào giờ chót này.

Sau khi người lính trở về chỗ ban đầu của  anh ta, một việc mà giống như qua đó quá khứ đã được xóa bỏ và một con đường đi tới tương lai tốt hơn được mở ra, “Big Minh” đứng dậy, từ từ đi tới bục diễn thuyết từ ghế ngồi và bắt đầu đọc tuyên bố của chính phủ , trong đó đưa ra lời đề nghị ngưng bắn ngay tức khắc. Như đã thỏa thuận với đại sứ Mỹ Graham Martin, Minh không đề cập tới việc yêu cầu di tản ngay tức khắc tất cả các quân nhân Mỹ. Nhưng ông ta cũng không còn nói là “những người Cộng sản” nữa, mà là “những người bạn của chúng ta ở phía bên kia… Thật sự nghiêm túc, chúng tôi mong muốn hòa giải. Các bạn chắc chắn biết điều đó là thật. Việc hòa giải đòi hỏi mỗi một bên đều phải tôn trọng quyền được sống của người khác. Đó là tinh thần của Hiệp định Paris… Những ngày sắp tới sẽ hết sức khó khăn…Tôi không hứa hẹn nhiều.” “Big Minh” bổ nhiệm luật sư Nguyễn Văn Huyền làm Phó Tổng thống. Thượng nghị sĩ Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng. Chính phủ vẫn chưa được giới thiệu.

Tôi đã không còn nghe bài diễn văn của “Big Minh’ cho tới khi kết thúc. Nội dung của nó chẳng có ý nghĩa gì khi so sánh với những cảnh tiêu biểu cho việc tự xóa bỏ một Nhà nước mà chúng tôi vừa quay xong. Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa thật sự đã hy sinh cái lớn nhất, để thúc đẩy phía Hà Nội đi tới thỏa hiệp chính trị vào phút cuối cùng: nó đã tự tan rã, từ bỏ những biểu tượng cho sự tồn tại, tự sát vì sợ hãi cái chết.

Tháo chạy và kết thúc

Để đưa cuốn phim lên chuyến bay tối để sang Bangkok càng sớm càng tốt, tôi đã cùng đội quay phim rời đi ngay. Tôi trình bày bản nháp cho ban biên tập ngay tại cửa. Vài phút sau đó, người quay phim và nhân viên người Việt lâu năm của chúng tôi lái xe ra sân bay. Lúc đó khoảng 6 giờ chiều, mưa đã nhẹ hơn nhiều.

Khách sạn Continental, nơi có khá nhiều nhà báo đang lưu trú. Ngoài hiên, nơi buổi chiều vẫn thường là địa điểm gặp gỡ cho giới báo chí, quân nhân Mỹ, giới ngoại giao và thương gia, giờ đây trông như bị bỏ hoang. Các nhà báo vẫn còn đang theo dõi lần thay đổi quyền lực trong dinh Tổng thống.  Phần khách còn lại đã hiểu được những dấu hiệu của cuộc chiến và chuẩn bị cho tình huống khẩn cấp thực tế. Cũng có vài người đang theo dõi trực tiếp lần nhậm chức của “Big Minh” trước các màn hình. Như thường lệ, những chiếc taxi Renault CV màu xanh-nâu vẫn đỗ trước Continental. Để giết thời gian, tôi lên một chiếc và đi về phía Chợ Lớn.

Sau khoảng hai kilômét, chúng tôi tới ga. Bất thình lình, vài chiếc A-37 đang bay ở phía trên bổ nhào xuống tấn công. Bạn có thể nghe thấy tiếng bom nổ ở phía sân bay. Vài giây sau, thành phố trở nên hỗn loạn. Bất kỳ ai có súng đều bắt đầu bắn lên trời. Người dân bỏ chạy, rồi nằm rạp xuống đất, rồi lại tiếp tục chạy đi. Tiếng ồn của vũ khí tăng lên càng làm cho người ta hoảng sợ, và hầu như không ai biết được nguyên do nổ súng. Người Sài Gòn bắn lên trời vì sợ. Bốn chiếc máy bay chiến đấu hạng nhẹ A-37 bị quân giải phóng miền Nam thu được đã cất cánh từ sân bay quân sự Phan Rang, cách Sài Gòn khoảng 200 kilômét  về phía Đông Bắc, và bay tới phi trường Tân Sơn Nhất dưới sự chỉ đường của một cựu phi công Việt Nam Cộng Hòa.

* Ngày 28-4-1975 phi đội Quyết Thắng đã tấn công sân bay Tân Sơn Nhất, ghi nhận trong tư liệu chuyến bay này có 5 chiếc A73 cất cánh và phi đội trưởng là ông Nguyễn Thành Trung, cựu phi công VNCH được đề cập ở trên là ông Trần Văn On, những người còn lại là Từ Đễ , Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng và Mai Vượng. 5 chiếc A73 này thu được ở Đà Nẵng.

Hiệu ứng tâm lý của lần đánh bom này vượt quá mọi sự mong đợi. Sau khi những quả bom rơi xuống, Sài Gòn lâm vào trạng thái hoảng loạn, khiến cho người ta nhớ tới những cảnh đông người trên các bậc thang Odessa của Sergei Eisenstein, giờ thì ai cũng biết rõ rằng trận đánh đã bắt đầu. Việc bắn súng vô nghĩa cũng giống như tự mình chối bỏ chế độ cũ của các dân cư có vũ trang của Sài Gòn kéo dài hơn một giờ đồng hồ cho tới khi trời tối. Giới nghiêm bắt đầu sau đó.

*Đoạn này hàm ý, người Sài Gòn đã phải tự mình cầm súng và bắn trong hoảng loạn, họ không còn tin vào sự bảo đảm an ninh của chính quyền nữa

Việc tự tháo gỡ các biểu tượng nhà nước và phản ứng hoảng loạn của người dân Sài Gòn sau vụ ném bom này cho tới nay đã không được nhắc tới hay chỉ được đề cập sơ qua trong các tường thuật của nhân chứng, và trong các diễn tả lịch sử.

Các cơ chế phòng vệ tâm lý đã dẫn đến cuộc di tản bằng trực thăng đầy bi thảm vào trưa ngày hôm sau, 29 tháng Tư,tại khu vực trung tâm. Những vụ đào thoát như thế cũng được ghi nhận tại các thất bại lịch sử khác của người phương Tây ở châu Á. Như  lần quân đội Mỹ đầu hàng ở Corregidor, tháng Tư 1942 ở vịnh Manila, đã bị che phủ trong phim ảnh và văn học bởi sự tàn bạo của người Nhật trong “cuộc hành quân chết chóc Bataan” trong trại tù binh; và “Cầu sông Kwai” đã chú ý đến sự tưởng tượng của phương Tây về kết cuộc của người Anh tại Malaya và Singapore.

*Bataan Death March: cuộc áp giải khỏang 80.000 tù binh Mỹ và Philipines của quân đội Nhật sau trận Bataan (Philipines), bắt đầu vào ngày 9 tháng Tư năm 1942, có rất nhiều tù nhân và dân thường bị chết trong sự kiện này. Đây vẫn được coi là tội ác chiến tranh tiêu biểu của quân đội Nhật Bản. Tiểu thuyết Ceremony của nhà văn Leslie Marmon Silko viết về câu chuyện của Laguna Pueblo, một tù binh sống sót sau sự kiện này

*Cầu sông Kwai: bộ phim với bối cảnh Thế chiến II,  dựa trên tiểu thuyết Le Pont de la Rivière Kwai (1952) của Pierre Boulle. Bộ phim nói về cảnh tù binh quân Đồng Minh bị quân đội Đế quốc Nhật Bản bắt buộc xây tuyến đường sắt Myanmar 1942-1943. Phim do David Lean đạo diễn và giành tới 7 giải Academy Awards.

Thật sự là hoạt động chính trị-ngoại giao cuối cùng với “Big Minh” là tâm điểm – được khuyến khích và cố vấn bởi Graham Martin và Jean-Marie Merillon – những người đã trì hoãn cuộc di tản khỏi Sài Gòn, kết quả là đã gây hậu quả nghiêm trọng về tâm lý và chính trị.

Đài phát thanh từ Hà Nội đã phát sóng một tuyên bố với lời lẽ cứng rắn hết sức bất thường ngay sau bài phát biểu của ông Minh, và một tính yêu cầu dứt khoát vượt qua tất cả các phát ngôn trong những ngày vừa qua. Họ kêu gọi người dân Sài Gòn hãy ‘nổi dậy’.

Rất nhanh sau khi những người lính quân Bắc Việt xuất hiện, và mở rộng  căn cứ trong khu vực sân bay,  họ tạo một hầm thông tin chỉ huy. Một người phát ngôn đọc thông báo rằng mọi cố gắng can thiệp của Mỹ sẽ bị từ chối. Mỹ cũng bị yêu cầu phải hủy bỏ bộ máy chiến tranh và xâm lược ngay lập tức. Bài diễn văn của ông Minh sẽ không có giá trị làm thay đổi yêu cầu này.

Họ (quân đội Bắc Việt) đã làm sụp đổ hoàn toàn ảo vọng cuối cùng. “Giải pháp Lào”cũng giống như một trò chơi. Mỹ và các đại diện của Sài Gòn đã đi nước cuối cùng của họ. Cái kết đã tới.

Vụ ném bom nhắm vào sân bay lúc 6 giờ chiều ngày thứ Hai thật sự đã là tín hiệu cho cuộc tổng tấn công. Suốt đêm hôm đó, Sài Gòn bị bắn phá bởi đạn pháo và hỏa tiễn. Cuộc di tản bằng trực thăng bắt đầu vào chiều ngày thứ Ba: ban đầu là từ một điểm tập trung trong khu vực sân bay, sau đó là từ nóc nhà của tòa đại sứ quán Mỹ. Bốn giờ sáng ngày thứ Tư, 30 tháng Tư, Đại sứ Mỹ Graham Martin rời đất nước. Những người lính Mỹ cuối cùng, mười một lính thủy quân lục chiến, bay lúc 7 giờ 53 phút từ Sài Gòn ra hạm đội ở gần bờ biển. Vào lúc 11 giờ trưa, 30 tháng Tư, xe tăng tiến tới dinh tổng thống ở nội thành. Một người lính chạy vào cùng lá cờ cùa quân Giải phóng trên tay, treo lên trong dinh Tổng thống, nơi sẽ được đổi tên thành dinh Độc Lập sau này, đánh dấu chiến thắng.

Lá cờ cũ đã bị vứt bỏ từ lâu.

Winfried Scharlau – bản tiếng Đức được biên tập bởi Rainer Frenkel

       Đăng trên tuần báo die Zeit ngày 26 tháng Tư 1985, 10 năm sau ngày giải phóng miền Nam

An Nguyen – Dịch và bổ sung thông tin 

Winfried Scharlau (1934 – 2004) là một nhà báo, tác giả và sử gia người Đức, ông là phóng viên khu vực Đông Á tại Việt Nam vào thời điểm trước 1975. Ông là phóng viên chiến trường trong thời gian của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Winfried Scharlau là một trong các nhà báo Phương Tây cuối cùng đã rời Việt Nam trong tháng 5 năm 1975.

Bài gốc: http://www.zeit.de/1985/18/die-letzten-tage-von-saigon